HẬU PHÁC – VỊ THUỐC CẢI THIỆN ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Hậu phác được biết đến là một trong những vị thuốc phổ biến dùng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa từ rất lâu. Ngoài ra, nó còn có 1 số tác dụng có lợi khác đối với sức khỏe con người.

Bài viết dưới đây của Viện nghiên cứu tinh hoa y dược cổ truyền sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thành phần – công dụng – và cách dùng của dược liệu hậu phác:

1. MÔ TẢ

Tên gọi khác: Hậu phác nam, Quế rừng, Xích phác, Hậu bì, Liệt phác, Trùng bì, Đạm bá, Xuyên hậu phác, Tử du phác, Chế xuyên phác, Chế tiểu phác, Dã phác, Tiểu xuyên phác,…

Tên khoa học: Magnolia officinalis

Cây hậu phác là cây gỗ lớn, cây có thể cao tới 15 mét. Vỏ cây màu nâu tím được thu hoạch để dùng làm thuốc, có hình ống hoặc nửa ống, mặt ngoài xù xì, không bằng phẳng, mặt trong có mày nâu đậm hoặc màu nâu tro. Cành non có lông. Lá đơn, thuôn dài hình trứng ngược, đầu lá nhọn, mọc so le, mép lá hơi lượn sóng, trên gân lá có nhiều lông nhung. Hoa to, màu trắng, có mùi thơm, mọc ở đầu cành. Qủa hình thuôn trứng, mọc tập trung tại một vị trí, trong quả có chứa từ 1 – 2 hạt.

2. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC

 Theo một số nghiên cứu, trong Hậu phác của Trung quốc có chứa khoảng 5% hợp chất phenol gọi là magnolol C18H18O2 (nhiệt độ nóng chảy 103oC) và tetrahydro magnolol (144oC) và iso-magnolol C18H18O2 (143oC).

Ngoài ra, còn có khoảng 1% tinh dầu, chủ yếu là machilol C15H26O.

Vào năm 1951 – 1952, hai nhà khoa học Masao và Tomita đã chiết được chất magnocurarin C19H25O4.1/4H2O từ loài Hậu phác Nhật bản (Magnolia abovata Thunb) có nhiệt độ nóng chảy 200oC.

3. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

Nước sắc vỏ Hậu phác có khả năng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, liên cầu, tụ cầu, phẩy khuẩn tả. Alcaloid toàn phần từ vỏ Hậu phác có tác dụng ức chế hoạt động tim và gây giãn mạch ngoại biên in vitro, gây hạ huyết áp in vivo trên động vật thí nghiệm. Vỏ Hậu phác có tác dụng giảm đau lợi tiểu.

Magnolol và honokiol chiết từ Hậu phác có hoạt tính ức chế rõ rệt vi khuẩn Gram dương và nấm. Cao ether và methanol chứa 2 hoạt chất trên có tác dụng ức chế mạnh vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans. Hai chất này còn có tác dụng giãn cơ, ức chế thần kinh trung ương và ức chế kết tập tiểu cầu thỏ gây bởi collagen mạnh hơn 3 lần so với aspirin.

Ngoài ra, magnolol có tác dụng dự phòng rõ rệt đối với loét dạ dày gây bởi stress do ngâm mình trong nước và chảy máu dạ dày do stress. Hoạt tính chống loét và chống tiết của magnolol không giống hoạt tính của atropin, cimetidine và methyl prostaglandin E2. Có thể do tác dụng ức chế trung tâm. Chất Magnolol (thành phần Phenol của Hậu phác) có tác dụng phòng ngừa loét dạ dày trên thực nghiệm, có tác dụng ức chế Histamin gây co thắt tá tràng, ức chế dạ dày tiết dịch (Trung Dược Học).

Giảm đầy hơi lúc châm tê cắt tử cung: Tác giả cho 36 bệnh nhân uống bột Hậu phác trước phẫu thuật, kết qủa lúc rạch phúc mạc, đại trường không phình, một số ít hơi đầy, dùng tay đẩy nhẹ là được. So với 163 ca không cho uống Hậu phác tốt hơn rất rõ, ( Báo Cáo Của Bệnh Viện Phụ Sản Trực Thuộc Học Viện Y Học Thượng Hải số I, Tạp Chí Tân Y)

4. CÔNG DỤNG LIỀU DÙNG

Theo Y học cổ truyền, hậu phác có vị đắng, cay, có tính ôn, không độc. Quy vào 3 kinh tỳ, vị, và đại trường.

Chủ trị đầy bụng, ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa, đại tiện bí táo.

Ngày dùng 6 – 20g dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

5. BÀI THUỐC KINH NGHIỆM

  • Trị bụng đầy mà mạch đi Sác: Hậu phác nửa cân, Chỉ thực 5 trái, dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 5 thăng, thêm vào 120g Đại hoàng, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, thấy bụng sôi là tốt. Nấu uống nước đầu mà không thấy sôi chuyển thì đừng uống tiếp (Hậu Phác Tam Vật Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
  • Trị trường vị thực nhiệt, khí trệ, trướng mãn, táo bón: Hậu phác 12g, Chỉ xác 8g, Đại hoàng 12g. Sắc uống (Hậu Phác Tam Vật Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
  • Trị thổ tả, bụng đau: Hậu phác sao với nước cốt gừng, tán bột. Mỗi lần uống 8g vớí nước mới múc ở giếng lên (Thánh Huệ phương).
  • Trị đàm ủng, nôn khan, ngực đầy tức, ăn không xuống: Hậu phác 40g, sao với Sinh khương, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước cơm (Thánh Huệ phương).
  • Trị bụng đau, bụng trướng, bụng đầy: Hậu phác nửa cân, Cam thảo, Đại hoàng, mỗi thứ 120g, Táo 10 trái, Chỉ thực 5 trái, Quế 60g, Sinh khương 150g, sắc với 1 đấu nước còn 4 thăng, chia làm 3 lần, uống nóng trong ngày. Nếu có nôn mủa thì thêm Bán hạ (Thất Vật Hậu Phác Thang – Cục phương).
  • Trị kinh nguyệt không thông: Hậu phác 120g, sao, xắt lát, sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng, chia làm 2 lần, uống lúc đói. Không quá 3 thăng là có hiệu quả (Mai Sư phương).
  • Trị kiết lỵ đi ra toàn xác thức ăn, lâu ngày không bớt: Hậu phác 120g, Hoàng liên 120g, sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng, uống lúc đói (Mai Sư phương).
  • Đại bổ Tỳ Vị suy nhược, ôn trung, giáng khí, hóa đàm, kích thích tiêu hóa, trị nôn mửa, tiêu chảy: Hậu phác bỏ vỏ, Sinh khương để luôn cả vỏ, xắt lát, sắc với 5 thăng nước cho cạn. Bỏ gừng đi, sấy khô Hậu phác, rồi lấy 160g Can khương, 80g Cam thảo, nước 5 thăng, sắc chung với Hậu phác cho cạn. Bỏ Cam thảo đi, sấy khô gừng và Hậu phác, tán bột. Dùng Táo nhục, Sinh khương đều sắc chín, bỏ gừng đi, lấy Táo quết nhuyễn, trộn thuốc bột làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm(Hậu Phác Tiễn Hoàn – Bách Nhất Tuyển phương).
  • Trị khí trướng, ngực đầy, ăn kém, lúc nóng lúc lạnh, bệnh lâu ngày không bớt: Hậu phác sao với nước cốt gừng, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước gạo lâu năm, ngày uống 3 lần (Đẩu Môn phương).
  • Trị bụng đầy, tiêu chảy: Hậu phác, Can khương, 2 vị bằng nhau, tán bột. Trộn với mật làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm (Bảo Thi phương).
  • Trị trẻ nhỏ bị thổ tả, Vị hư kèm theo động kinh kéo đàm: Hậu phác 40g, sắc với nước Bán hạ 7 lần, ngâm với nước cốt gừng nửa ngày, phơi khô. Mỗi lần lấy 4g ngâm với 3 thăng nước vo gạo một buổí, cho đến khi khô thì thôi, nếu chưa khô thì sao cho khô, bỏ Hậu phác đi, chỉ dùng Bán hạ mà thôi. Mỗi lần uống 2g hoặc 4g với nước sắc Bạc hà (Tử Phác Tán phương).
  • Trị đại trường khô táo: Hậu phác sống (tán bột), ruột heo nấu nhừ, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 30 viên với nước gừng (Thập Tiện Lương phương).
  • Trị Tâm Tỳ không điều hòa, đi tiểu ra chất đục: Hậu phác sao v6i nước cốt gừng 40g, Bạch phục linh 4g, Rượu l chén, sắc uống nóng (Kinh Nghiệm phương).
  • Trị bụng đầy do thương thực: Hậu phác, Trần bì, Chỉ xác, Mạch nha, Sơn tra, Thào qủa, Sa nhân. Sao khô uống với nước (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị tiêu chảy do thấp nhiệt: Hậu phác, Quất bì, Hoàng liên, Cam thảo, Thương truật, Bạch truật, Cát căn. Sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị bạch đới giai đoạn đầu: Hậu phác, Binh lang, Mộc hương, Hoàng liên, Hoạt thạch, Quất bì, Cam thảo, Bạch thược (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị bụng đầy: Hậu phác, Bạch truật, Nhân sâm, Bạch thược, Phục linh sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị nôn mửa do Vị hàn: Hậu phác, Sinh khương, Quất bì, Hoắc hương, Sa nhân, Bán hạ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị tích khối lạnh cứng lâu năm trong người: Hậu phác, Tam lăng, Bồng nga truật, Binh lang, Nbân sâm, Thanh bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị ngực đầy do khí, kích thích cho ăn nhíều: Hậu phác, Thương truật, Quất bì, Cam thảo, làm thuốc tán uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị kinh nguyệt không thông: Hậu phác 120g, sao, xắt lát, thêm Đào nhân, Hồng hoa, sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, chia làm 2 lần, uống lúc đói (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị Tỳ Vi hư hàn, khí trệ, trướng mãn: Hậu phác 8g, Sinh khương 8g, Bán hạ 12g, Cam thảo 8g, Đảng sâm 12g. Sắc uống (Hậu Phác Sinh Khương Bán Hạ Cam Thảo Nhân Sâm Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị bụng đau do lạnh, bụng đầy tức không ăn được: Hậu phác 12g, Trần bì 8g, Can khương 4g, Thảo đậu khấu 6g, Xích phục linh 12g, Mộc hương 4g, Cam thảo 4g, Sinh khương, Đại táo, mỗi thứ 12g. Sắc uống (Hậu Phác Ôn Trung Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị thấp đàm ủng phế, ngực đầy tức, ho suyễn, phế quản viêm mạn tính: Hậu phác 8g, Ma hoàng 4g, Thạch cao (sống) 20g, Hạnh nhân 12g, Bán hạ 12g, Ngũ vị tử 4g, Can khương 3,2g, Tế tân 2g, Tiểu mạch 16g. Sắc uống (Hậu Phác Ma Hoàng Thang).
  • Trị sợ gió, tự ra mồ hôi, ngực đầy, ho, suyễn: Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Hậu phác, Hạnh nhân, mỗi thứ 12g, Cam thảo 4g, Sắc uống (Quế Chi Gia Hậu Phác Hạnh Tử Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).